28/7/19

Vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG) là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây nên bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) ở gà và gây bệnh viêm xoang truyền nhiễm của gà tây, những tổn thất của bệnh gây ra có ảnh hưởng rất lớn với gà thịt, gà giống và gà đẻ thương phẩm.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh CRD, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh CRD và vi khuẩn MG gây bệnh được tiến hành. Đây là một bệnh cần phải kiểm tra định kỳ và được đặt lên hàng đầu là việc chẩn đoán bằng phản ứng ngưng kết nhanh. Từ năm 2007, bộ môn Vi trùng Viện Thú y đã phân lập và có giống vi khuẩn MGGC8; bộ môn đã tiến hành chế tạo kháng nguyên (KN) MG dùng trong chẩn đoán bệnh CRD trên diện hẹp. Những nghiên cứu bước đầu về các chỉ tiêu vô trùng, an toàn và hiệu lực của kháng nguyên này đối với đàn gà nuôi ở Việt Nam đã cho kết quả tốt.
Nhằm góp phần phòng chống bệnh CRD ở Việt Nam đạt hiệu quả cao, nhóm nghiên cứu tại Viện Thú y do TS. Đào Thị Hảo dẫn đầu, đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sản xuất kháng nguyên chẩn đoán nhanh và giám sát sự lưu hành của vi khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG) trên gà tại khu vực phía Bắc” trong giai đoạn 2013-2015.

Một số kết quả nghiên cứu:
1. Giống vi khuẩn MGGC8 có tính kháng nguyên ổn định, đảm bảo các chỉ tiêu về giống dùng để chế kháng nguyên khi được nuôi cấy từ môi trường đông khô, thạch lỏng và được gây nhiễm qua phôi trứng, tương tự như giống MGS6 chuẩn, cụ thể:
+ Giữ được tính độc lực và ổn định trên phôi gà, gây chết phôi với liều gây nhiễm 1×108 vk/ml, trong vòng 48- 96 giờ với những bệnh tích điển hình của vi khuẩn MG.
+ Phát triển ổn định trên các loại môi trường MB, MA; pH thay đổi từ 7,8- 5,3; nhuộm Giemsa dương tính; lên men đường Glucose; HI≥ 1/8; xác định cấu trúc gen bằng phản ứng PCR kích cỡ sản phẩm là 530 bp

2. Đã chế tạo và hoàn thiện được 280 ml KNMG tương đương với 10.000 liều (phản ứng) trong phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD ở gà.
+ Kháng nguyên MG đạt các chỉ tiêu An toàn 100%; Vô trùng; Thuần khiết; Đậm độ vi khuẩn đạt 1×1010 vk/ml; Hiệu giá ngưng kết: nồng độ ≥1/8; độ đặc hiệu 100%; độ nhạy ≥90%; màu xanh tím; giá thành 75% so với sản phẩm nhập ngoại.

3.Ứng dụng kháng nguyên MG do Viện Thú y chế tạo đã xác định được:
+ Tất cả các giống gà trên địa bàn nghiên cứu được kiểm tra đều dương tính với KNMG trong phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính với kết quả: Tỷ lệ nhiễm chung toàn đàn nghiên cứu là 34,04%;
+ Tiến hành phân lập đươc 15 chủng MG từ 100 phổi gà có huyết thanh dương tính với KNMG, xác định được 15/15 chủng thuộc týp huyết thanh A tương tự như chủng MGGC8 dùng để chế kháng nguyên.

4. Kháng nguyên MG Viện Thú y sản xuất đáp ứng được yêu cầu dùng để xác định tỷ lệ nhiễm MG bằng phản ứng ngưng kết nhanh trên các đàn gà nuôi ở Việt Nam.
Tổng hợp: N.P.D
Nguồn tin: Cục Thông tin KH&CN Quốc Gia
Read More

27/7/19

Nuôi gà nòi Bến Tre đang là một trong những lựa chọn đầu tiên của bà con nông hộ trong thời gian này. Với sức sống cao, thời gian nuôi tương đối và đầu ra ổn định, đặc biệt giá thị trường hiện đang khá tốt nên nuôi gà nòi hiện đang phát triển mạnh, một số lưu ý sau từ kỹ sư Hùynh Yên Ngân sẽ giúp bà con chăn nuôi thành công hơn.
CHỌN GÀ CON
Chọn gà từ lò có uy tín, gà phải đều cỡ, chân bóng, lông non ít, thời gian nở đồng đều và phải chích ngừa maret tại lò. Bên dưới là một số thông tin về bệnh maret trên gà.
  • [vtab]
    • BỆNH MARET
      • Marek là bệnh truyền nhiễm của gà do một loại virus thuộc nhóm herpes gây ra. Bệnh có đặc điểm là sự tăng sinh cao độ tế bào lympo dưới hình thức khối u ở tổ chức thần kinh ngoại biên, các cơ quan nội tạng, da và cơ làm xuất hiện các triệu chứng rối loạn vận động và bại liệt.
        Virus gây bệnh được nhà bệnh lý học người Hungary Jozsef Marek mô tả lần đầu tiên ở nước này vào năm 1907.
        Đến nay người ta đã phân lập được ba type virus herpes:  type 1 và  type 2 được phân lập trên gà, (trong đó  type 2 không có độc lực);  type 3 cũng không có độc lực, nhưng được phân lập trên gà tây.
    • ĐƯỜNG LÂY
      • Bệnh có thể lây lan nhanh, mạnh trên đàn gà vì virus có trong các nang lông. Sau khi nhiễm bệnh 14 ngày, gà con đã lây bệnh cho nhau.
        Virus có thể tồn tại nhiều tháng trong môi trường ở nhiệt độ 20-25 độ C và hàng năm ở 4 độ C. Khi xâm nhập vào đàn, virus có khả năng lây lan nhanh giữa gia cầm chưa được tiêm phòng. Gà nhiễm bệnh tiếp tục mang trùng và là nguồn lây bệnh trong thời gian dài. Virus có thể lan truyền rất xa trong không khí.
        Bệnh lây trực tiếp từ gà ốm sang gà khoẻ bằng đường thở và lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi và cơ sở ấp trứng có chứa mầm bệnh.
        Bệnh không lây qua phôi.
    • TRIỆU CHỨNG
      • Bệnh tiến triển chủ yếu ở hai thể cấp tính và mãn tính.Thể cấp tính chủ yếu ở gà 4 – 8 tuần tuổi, có thể sớm hơn.
        Bệnh ít có triệu chứng điển hình, ngoài hiện tượng chết đột ngột. Tỷ lệ chết thường cao, có khi tới 20 – 30%, thường thể hiện triệu chứng ủ rũ và gầy yếu trước khi chết.
        Gà thường bỏ ăn, ỉa phân lỏng và giảm tỷ lệ đẻ, đi lại khó khăn, bại liệt, sã cánh một bên do viêm dây thần kinh vận động.
        - Thể mãn tính (thể cổ điển) chủ yếu xảy ra ở gà 4 – 8 tháng tuổi thường ở hai thể, thể thần kinh và thể mắt.
        + Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, liệt nhẹ rồi dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có thể bị rủ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh sã xuống một bên hoặc cả hai bên.
        + Thể viêm mắt: Trong nhiều ổ dịch, gà thường viêm mắt. Bệnh bắt đầu bằng hiện tượng viêm mắt nhẹ. Gà tỏ ra rất mẫn cảm với ánh sáng, chảy nước mắt trong. Dần dần viêm màng tiếp hợp rồi viêm mống mắt. Mủ trắng đóng dầy khoé mắt, khả năng nhìn kém dần, không mổ trúng thức ăn và cuối cùng có thể bị mù.
    • BIỂU HIỆN
      • - Thể cấp tính: chủ yếu hình thành các khối u ở nội tạng. U thường có ở gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … gan, lách sưng to hơn nhiều lần so với bình thường, nhạt màu và bở. Đó là thể u lan tràn.Trường hợp khối u ở thể hạt làm mặt gan sần sùi với nhiều nốt to nhỏ không đồng đều nhau màu trắng xám. Trường hợp khối u ở đường tiêu hóa như dạ dày tuyến, thành ruột, sẽ làm tổ chức này dày lên. U ở cơ làm tổ chức cơ phồng to, mặt cắt khối u màu trắng xám do thâm nhiễm bạch cầu.|
        Thời gian ủ bệnh khoảng 3- 4 tuần sau khi nhiễm.|- Thể mãn tính: bệnh tích chủ yếu là hiện tượng viêm tăng sinh các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh hông, thần kinh cánh  bị sưng to, có khi to hơn 4 – 5 lần so với bình thường và có thể bị phù thũng. Ngoài bệnh biến ở tổ chức thần kinh còn một số bệnh tích khác như các cơ bị teo, mắt mù, con ngươi biến dạng.
    • CHẨN ĐOÁN
      • Dễ nhầm bệnh Marek với bệnh Leuco về mặt dịch tễ học, triệu chứng lâm sàng và các biến đổi bệnh tích đại thể.Cũng cần phân biệt bệnh Marek với bệnh Newcastle thể mãn tính. Cả hai bệnh đều có hiện tượng bại liệt, song bệnh Newcastle biểu hiện rối loạn cơ năng vận động do bệnh biến ở thần kinh trung ương thường phổ biến hơn.
Lưu ý, nếu gà có con mọc lông cánh chứng tỏ trong bầy không đều nhau ngày ấp hoặc nhóm mọc lông trước bị lạnh hoặc bệnh lý, vì khi gà lạnh hoặc nhiễm bệnh lông có xu hướng mọc nhanh hơn để sưởi ấm thân nhiệt, điều này cũng đúng với gà lớn.

Nhập vào phải cho vào chuồng úm ngay và ghi chú thời gian rõ ràng, nên xài Dương lịch dễ theo dõi lịch thuốc và vaccin.

CHUẨN BỊ CHUỒNG ÚM
1. Chuồng úm: làm từ các vật liệu dễ tìm tại địa phương như tre, gỗ, bạt hoặc lá, được vây lại theo hình vuông, vật liệu tốt nhất là tre và bạt plastic để tận dụng di chuyển chuồng úm sau mỗi vụ dễ dàng nếu có diện tích đất rộng để giảm tỷ lệ mầm bệnh cho đàn gà sau.
Chuồng úm có kích thước như sau:
Với giống gà nòi cần 1m3 cho 100 gà con mới bắt và tăng dần diện tích khi gà bắt đầu lớn. Có thể gia giảm tùy theo diện tích cho phép của trại nuôi tuy nhiên không lệch quá để tránh gà lạnh hoặc quá nóng.
Chiều cao chuồng gà từ 1m - 1m5.
Có che đủ 4 phía nhằm giữ ấm cho gà. Có thể tận dụng bao thức ăn chăn nuôi may lại làm mành sẽ tiết kiệm chi phí, tuy nhiên phải đảm bảo các loại bao này chưa từng tiếp xúc với đàn gà trước và không mang mầm bệnh gây hại cho gà con.

2. Nền
Hiện tại với bà con nông hộ thường sử dụng nền chuồng là nền đất thịt khô ráo hoặc đất thịt có trải cát phía trên để làm phền nền úm.
Nên cuốn nền đất hoặc nền cát đệm bằng phẳng. rải một lớp trấu sạch dày khoảng 1cm, sau đó rải thêm chế phẩm sinh học balasa một lớp nhằm tạo môi trường phân hủy các chất hữu cơ giúp giảm mùi hôi chuồng gà con.
Sau đó trải thêm một lớp trấu dày từ 3 - 4cm phía trên cùng.
Một số nông hộ hiện nay sử dụng nền tráng xi măng, việc này làm giảm công dọn dẹp và vệ sinh hơn trong chăn nuôi cũng đang được áp dụng khá nhiều, mô hình này hiệu quả với các nông hộ có diện tích đất ít và khó thay đổi vị trí chuồng úm.

3. Nhiệt độ chuồng úm
Nhiệt độ là điều kiện quan trọng với đàn gà con, yếu tố này quyết định năng suất của gà con và ảnh hưởng nhiều đến quá trình sinh trưởng. vì vậy cần được quan tâm kỹ từ thời gian đầu thả gà.
Đặc điểm mô hình nuôi bán công nghiệp tại nông hộ là khu vực chăn nuôi chủ yếu ở vườn nhà, có cây lớn che bóng râm nên việc quản lý chuồng trại cần quan tâm nhiều hơn về nhiệt độ.

Biểu đồ nhiệt độ chuồng úm gà tham khảo từ galuonghue.com.vn
Cần phải chú trọng đặc biệt bởi trong giai đoạn đầu gà con chưa thể tự điều chỉnh được thân nhiệt.
Thiết bị sưởi thường được sử dụng và khuyến cáo nên dùng là bóng hồng ngoại, nên chọn loại bóng có công xuất tối thiểu là 100W và tối đa là 250W. Bố trí dàn bóng phân bổ đều trên quây úm với mật độ là 60- 100 gà/bóng.
Chiều cao của bóng treo so với mặt nền chấu là: 50- 60cm. Bóng hồng ngoại được sản xuất khuyến cáo dùng cho động vật non, giúp tập trung nhiệt tốt hơn, kích thích hệ miễn dịch và tăng trưởng cho gà con.
Với điều kiện của một số nông hộ, có thể dùng bóng đèn tròn 25W với tỷ lệ 50 gà con 1 bóng đèn và trải đều khắp chuồng úm, sau khi gà lớn.
Thời gian chiếu sáng đèn tham khảo cho đàn gà con
Với điều kiện thời tiết tại miền Tây có hai mùa mưa và mùa nắng, cần lưu ý thời tiết tại địa phương mà điều chỉnh thời gian chiếu sáng cho phù hợp. Bình thường gà từ 1-3 ngày tuổi phải bật đèn úm 24/24, từ ngày thứ 4 để đèn tới 7h sáng nếu không mưa, tối từ 16-17h bật đèn.
Sau 15 ngày ngưng đèn úm, tuy nhiên, với mùa lạnh 20-28 ngày ngưng đèn, hoặc tình hình thời tiết lạnh giảm bóng đèn từ từ.
Thời gian úm gà phải chú ý quan sát biểu hiện của gà con để điều chỉnh nhiệt độ chuồng úm cho phù hợp:
Có gió lùa: Gà kêu râm ran, tập trung lại vào một chỗ tránh hướng gió lùa vào. -> Cần chú ý buộc chặt các vách.
Quá lạnh: Gà con tập trung hết vào dưới nguồn nhiệt -> tăng nguồn nhiệt hoặc hạ độ cao của đèn.
Quá nóng: Gà con tản ra xa vị trí nguồn nhiệt -> giảm số lượng đèn hoặc nâng đèn lên cao.

4. Thức ăn
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu cho sự phát triển của gà con.
Hiện tại gà con bắt về sau 1 giờ có thể bắt đầu cho ăn thức ăn hỗn hợp dạng mảnh. Có mâm ăn riêng cho gà con
Với gà con phải cho ăn 24/24, mỗi lần một chút, khi hết phải thêm vô, canh không thiếu thức ăn. Khay ăn và khay uống nên được bố trí đều ở quanh quây úm để đảm bảo gà con có thể tiếp cận với nguồn thức ăn và nước uống bất cứ khi nào cần.
Cần có mâm ăn riêng cho gà con.

THUỐC ÚM GÀ CON
Bổ sung nước thuốc giúp gà úm đạt năng suất cao.
Thời gian pha thuốc:
Sáng: 6h - 11h.
Trưa: 11-15h
Chiều: 15-20h
Tối: 20 - đến sáng hôm sau.
Theo đó, các cử Sáng, Trưa, Chiều bắt buộc phải pha thuốc úm vào nước cho gà, cử Tối chỉ cần cho gà uống nước sạch.

1. Thuốc úm gà
Thuốc úm phải trộn và bỏ vô keo đựng bảo quản nơi khô ráo, tránh ánh nắng và động vật khác. Có thể sử dụng keo 1kg để phù hợp với quy cách đóng gói các loại thuốc hiện nay. Mỗi loại thuốc 1 keo riêng và phải có nhãn ghi chú tên thuốc + liều lượng sử dụng trên nắp keo.
Hiện nay theo thực tế có một số loại thuốc úm hiện đang sử dụng tốt:
- Hepatol (Greenvet): 1cc/1lít nước
- Điện giải Electrolytes Water Soluble (Bayer) AT110: 1 muỗng cà phê cho 1 lít nước
- Bromhexin: 1 muỗng cà phê cho 1 lít nước
- Tydoxin: 1 muỗng cà phê cho 1 lít nước
- Gluco KC: 1 muỗng cà phê cho 1 lít nước
- B Complex: 1 muỗng cà phê cho 1 lít nước
- Men tiêu hóa
- Diclacox

Lịch pha thuốc tính từ ngày nhập gà:
Ngày thứ 1 - 2 - 3 - 4: AT110 + Tydoxin + GlucoKC
Ngày thứ 5 - 6 - 7: AT110 + Hepatol
Ngày thứ 8 - 9 - 10: AT110 + Diclacox + Gluco KC
Ngày thứ 11 - 12 - 13: AT110 + Bcomplex + Men tiêu hóa
Ngày thứ 14 - 15  - 16: AT110 + Tydoxin + Bcomplex
Lưu ý:
Mỗi thứ 1 muỗng cà phê pha được 4 lít nước thuốc. Riêng hepatol thì 1cc cho 1 lít nước
Lịch thuốc sài suốt thời gian nuôi, cứ quay lịch lại sử dụng.
Thuốc pha theo lịch phía trên, điều chỉnh sau mỗi cử, dư ra phải bỏ đi không được sử dụng lại.



Một số loại thuốc úm tham khảo
LỊCH VACCIN GIÀ 
Phòng bệnh hơn trị bệnh!
Lịch vaccin gà phải thực hiện đúng ngày, đúng quy trình và có hướng dẫn của kỹ sư thú y.
Sau đây là lịch vaccin tham khảo:
Ngày tuổi Loại vaccin Cách dùng
3 ND - IB Nhỏ mũi
7 Gumboro Nhỏ miệng
10 Đậu gà Châm cánh
18 Gumboro Nhỏ miệng
25 ND-IB Nhỏ mũi
35 H5N1 Tiêm da cổ
45 Tụ huyết trùng
65 ND-IB Cho uống

Read More

22/7/19

Sản xuất thành công gà giống từ phương pháp thụ tinh nhân tạo mở ra mở một hướng đi mới cho ngành chăn nuôi tỉnh Phú Thọ nói riêng và Việt Nam nói chung. Những con gà giống chất lượng cao, sạch bệnh, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là điều kiện tất yếu để phát triển ngành chăn nuôi theo hướng bền vững, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.
Read More
Vịt siêu thịt lớn nhanh hơn vịt ta nhiều lần. Từ vịt mới nở, chỉ cần nuôi 2 tháng rưỡi là đã nặng tới 3 kg. Nếu trong một gia đình chỉ cần một lao động chăn khoảng 30 con vịt siêu thịt thì sau 3 tháng đã có ngót ngét một tạ thịt vịt. Chỉ 75 ngày tuổi, vịt nặng khoảng 2,8 - 3,2 kg.
Read More

30/6/19

Trong tình hình dịch bệnh ở heo diễn biến phức tạp, nhiều người tiêu dùng chuyển hướng sang tiêu thụ các loại thực phẩm khác, vì vậy nhu cầu của vịt và gà tăng mạnh, nổi bật trong số đó là thịt vịt Xiêm Pháp, giống vịt Xiêm lai Pháp dể nuôi, ít bệnh, tăng trưởng nhanh, tỷ lệ thịt cao, thịt thơm ngon, hấp dẫn. Vịt trưởng thành con trống có trọng lượng: 4 – 6 kg, con mái từ 3 – 4 kg. Sau 7 – 8 tuần nuôi là có thể giết thịt. Vịt Xiêm có thể ăn thức ăn công nghiệp kết hợp với các loại phụ phẩm nông nghiệp để tiết kiệm chi phí.
Read More

26/6/19

Trong tình hình chăn nuôi hiện nay, nguồn nước đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp năng suất chất lượng đàn vật nuôi, ngoài ra còn là một mắc xích trong khâu bảo đảm an toàn sinh học trước tình hình dịch bệnh đang hoành hành trong ngành chăn nuôi 2 năm trở lại đây.
Việc hiểu đúng nhu cầu về lượng nước trong chăn nuôi chỉ là một phần yếu tố giúp đảm bảo năng suất, việc sát trùng nguồn nước, mang lại một nguồn nước sạch đúng nghĩa sẽ giúp đảm bảo tốt cho công tác chăn nuôi được hiệu quả.

Một số nguồn nước hiện nay được bà con chăn nuôi hay dùng là:
Nước máy: Nước cung cấp từ nhà máy nước địa phương, thường dùng trong sinh hoạt gia đình và cho vật nuôi uống (tỷ lệ ít)
Nước cây: Nguồn nước giếng khoan, cây nước sử dụng mạch nước ngầm được đa số bà con tin dùng trong tình trạng dịch bệnh hiện nay, chủ yếu để vật nuôi uống, dội, tắm rửa....
Nước sông: Hoặc các nguồn nước bắt nguồn từ sông hồ, đây là nguồn nước phổ biến nhất nhưng cũng mang nhiều nguy cơ nhiễm mầm bệnh nhất trong chăn nuôi.


Trong 3 nguồn nước chính trên thì chỉ duy nhất nước máy là có chất lượng và đảm bảo nhất, tuy nhiên, do chi phí quá cao và không thể cung cấp đủ cho nhu cầu chăn nuôi với hộ có số lượng vật nuôi lớn, vì vậy hai nguồn nước còn lại vẫn được bà con tin dùng, tuy nhiên, để đảm bảo  được an toàn sinh học trong bối cảnh dịch bệnh đa dạng và khó điều trị thì hai nguồn nước đó cần được sát trùng kỹ lưỡng. Sau đây DNTG.VN sẽ chia sẻ một phương pháp đơn giản với chi phí khá rẻ cho bà con chăn nuôi có thể sát trùng nguồn nước dùng trong chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học:

CHUẨN BỊ

  1. Bồn chứa nước (500 lít, 1000 lít, 2000 lít tùy quy mô trại nuôi)
  2. Một xô nhỏ 20 lít dùng để pha thuốc sát trùng.
  3. Muỗng cà phê nhỏ (tương đướng 5g)
  4. Thirosulfate natri (mua tại các tiệm hóa chấy)
  5. Giấy quỳ tím: Dùng để xác định độ pH của nước
  6. Thuốc sát trùng Chlorine 70%  mua tại các tiệm thuốc thú y hoặc hóa chất.
THỰC HIỆN

BƯỚC 1: Xác định lượng nước cần sát trùng và đo độ pH
Dùng bồn chứa thích hợp cho lượng nước cần sát trùng.
Lấy giấy quỳ đo độ pH của nguồn nước cần sát trùng.

BƯỚC 2: Thực hiện sát trùng
- Dùng dung dịch Chlorine 70% với hàm lượng: 10gr (đong bằng muỗng cà phê là  2 muỗng) pha vào 5 lít nước trong xô nhỏ.
- Khuấy tan hỗn hợp.
Hỗn hợp này dùng để sát trùng cho 1m3 nước ở độ pH <= 7, nếu độ pH của nước cần sát trùng khác thì dùng lượng Chlorine theo chuẩn sau:
  • [col]
    • ĐỘ PH NƯỚC
      > 7 - 8
      > 8 - 8.5
      > 8.5 - 9.5
    • LƯỢNG CHLORINE SO VỚI NƯỚC <=7
      Tăng 3 lần
      Tăng 4 lần
      Tăng 4.5 lần
LƯU Ý
- Chỉ sử dụng phần nước sát trùng sau xử lý ít nhất 4 giờ.
- Sử dụng muỗng cà phê nhỏ, không dùng muỗng lớn.
- Tham khảo liều lượng chế phẩm mua từ nhà thuốc.

TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ BỒN CHỨA DỰ PHÒNG SAU XỬ LÝ
Trường hợp hộ chăn nuôi không có bồn chứa nước dự phòng sau xử lý, có thể dùng chế phẩm Thirosulfate natri để khử phần clo trong nước.
Với liều tượng 10gr Chlorine cho 1m3 nước thì cần 20gr Thirosulfate để khử clo trong dung dịch nước sau khử trùng
Lưu ý: Sau khi hòa Thirosulfate vào nước cần để ít nhất 30 phút mới được dùng.
Nếu tăng lượng chlorine lên thì tăng lượng thirosulfate tương ứng.




Read More
Trước đến nay chúng ta thường quan điểm nước khác với dinh dưỡng. Nhưng thực chất, nước chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm. Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn…
Như vậy, chăn nuôi gà nếu muốn thành công thì không thể bỏ qua việc cung cấp đúng loại nước, đủ lượng nước, đúng cách cho đàn gà ngay từ những ngày đầu.
Giống như hầu hết các loài vật khác, gà đòi hỏi một nguồn cung cấp nước sạch hằng ngày. Tuy nhiên, đa phần người chăn nuôi nói chung và người chăn nuôi gà nói riêng thường không lưu ý tới việc cung cấp đủ nước để cho con vật sản xuất ra “lương thực” cho con người (trong trường hợp này là cung cấp đủ nước cho gà mái đang đẻ trứng để gà con nở ra khỏe mạnh ngay từ những ngày đầu hay cho những quả trứng chất lượng ngon hơn).
Read More

23/1/19

Bệnh xuất hiện lẻ tẻ, trong đó triệu chứng điển hình là heo con run bẩm sinh (vừa sinh ra đã có triệu chứng run). Triệu chứng bệnh xuất hiện từ lúc heo vừa sinh ra và giảm dần khi heo lớn.

Đây là một bệnh không xuất hiện thường xuyên ở heo con sơ sinh. Khi bệnh xảy ra trong một lứa đẻ bất kỳ, nó thường không chỉ bị một con. Trường hợp bệnh nặng rất dễ dẫn đến tử vong do heo con quá run và không thể di chuyển đến gần bầu vú heo mẹ để bú.
Tỷ lệ tử vong trong một lứa đẻ hoặc một ổ dịch có thể tăng từ 3-10% so với mức bình thường. Khi heo con càng lớn, bệnh sẽ càng giảm.
Trong thực tế, hầu hết mọi trang trại chăn nuôi heo đều đã từng ít nhất một lần có heo con run bẩm sinh. 


Hiện có 4 nguyên nhân khác nhau được công nhận là gây hiện tượng heo con run bẩm sinh:
  1. Do di truyền.
  2. Do virus.
  3. Do tác động của một chất hóa học nào đó.
  4. Các trường hợp còn lại không rõ nguyên nhân.

Trong trường hợp nhiễm trùng, triệu chứng run có xuất hiện nhưng không rõ ràng có lẽ là do một hàng rào miễn dịch trên heo con đã được thiết lập ngay từ trong cơ thể heo mẹ.
Tuy nhiên, ở các trang trại có heo nái tơ (heo nái đẻ lần đầu), có tới 80% lứa đẻ của heo nái tơ có heo con run bẩm sinh. Điều này đến hiện nay người ta vẫn chưa lý giải được nguyên nhân nên chỉ có thể khuyến cáo các trang trại chăn nuôi heo hậu bị làm tốt công tác quản lý, vệ sinh, phòng bệnh…

Nguyên nhân và yếu tố góp phần dẫn đến hiện tượng heo con run bẩm sinh.
Dựa trên kết quả phân tích mô học não trong phòng thí nghiệm, có 4 nhóm nguyên nhân được phân loại như sau:
  1. Liên quan đến bệnh sốt heo cổ điển.
  2. Do một loại virus chưa thể xác định, có thể là circovirus vì hầu hết các triệu chứng run trên heo con và heo lớn đều do nhóm virus này gây ra.
  3. Liên quan đến vấn đề di truyền do giống. Một số giống thường gặp nhiều như Landrace. Trong một số trường hợp có thể do heo mẹ ngộ độc phospho hữu cơ.
  4. Nhiễm độc do tricholorfon hay metrifonate.

Các trường hợp còn lại không rõ nguyên nhân.
Chẩn đoán phát hiện khi heo con run bẩm sinh.
Chủ yếu là dựa vào các triệu chứng lâm sàng.

Việc kiểm tra mô học trong phòng thí nghiệm chỉ có ý nghĩa phân biệt nhóm nguyên nhân gây bệnh heo con run bẩm sinh.

Điều trị khi phát hiện heo con run bẩm sinh.
Hiện tại, do nguyên nhân gây bệnh rất khó xác định nên người ta vẫn chưa thể điều trị được bệnh. Tuy nhiên, nếu chúng ta làm tốt công tác quản lý thì tỷ lệ heo con run bẩm sinh có thể giảm đáng kể.
Luôn đảm bảo heo con được bú sữa đầu ngay lúc vừa sinh ra và luôn phải để ý, giúp đỡ heo con trong việc tìm kiếm núm vú để bú.
Loại bỏ ngay những thức ăn của heo nái đã hư hỏng hay bị ô nhiễm bởi triclorfon hay metrifonate.
Kiểm soát nguyên nhân lây nhiễm nếu xác định được nguyên nhân.

Read More
Trong thực tế, hầu như không một trại chăn nuôi heo nào không gặp trường hợp heo mẹ đè chết heo con. Đây cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu (chiếm khoảng 45%) trong số các nguyên nhân gây chết heo con.

Heo con theo mẹ chết, 45% là do mẹ đè

Thực trạng heo con bị mẹ đè như thế nào?
Nhiều người chăn nuôi cho rằng đa phần heo con bị đè chết thường là heo nhỏ, còi cọc và yếu nhưng theo các số liệu nghiên cứu tại Ireland năm 2014 thì trong số những heo con chết do mẹ đè thì có tới 70% heo con khỏe mạnh bình thường.

Theo số liệu có được từ một số cuộc điều tra cho biết, tỷ lệ heo chết do mẹ đè / tổng số heo con chết cụ thể như sau:
- Trong 3 ngày đầu chiếm 55,3%.
- Trong 10 ngày đầu chiếm 47,3%.
- Trong 20 ngày đầu chiếm 42,9%.
- Trong 30 ngày đầu chiếm 32%.

Đặc biệt, tổng tỷ lệ heo chết do mẹ đè trong vòng 4 ngày đầu chiếm tới 86%, cụ thể như sau:
- Ngày 1 là 36%.
- Ngày 2 là 25%.
- Ngày 3 là 18%.
- Ngày 4 là 7%.

Trong các nghiên cứu đó, người ta chia cơ thể nái thành 3 phần: mông, eo, ngực, thì phần mông đè chết heo con chiếm 70%; phần eo chiếm 15,2% và phần ngực là 14,8%.

Vậy thì nguyên nhân heo con bị mẹ đè là do đâu?
Từ phía heo nái:
Chuồng nuôi quá chật nên heo nái không có nhiều không gian để trở mình, dễ đè phải heo con

Nguyên nhân hàng đầu là do khi heo nái chuyển từ trạng thái đứng sang ngồi hoặc nằm. Khi heo mẹ nằm xuống, thường nó rất thận trọng và từ từ nhưng có thể nó vẫn đè chết heo con.

Quá trình nằm tự nhiên của heo nái diễn ra như sau:
- Heo mẹ cảnh báo các con của mình bằng tiếng kêu ủn ỉn và đẩy nhẹ chúng xa ra bằng mũi.
- Heo mẹ gập người xuống bằng hai chân trước và kéo phần phía sau theo, một con heo con vẫn nằm trong khu vực nguy hiểm.
- Khung cơ thể làm chậm lại quá trình hạ thấp thân sau của nái giúp heo con có thời gian để tránh ra xa.
- Heo mẹ nằm xuống và những chú heo con an toàn.

Heo nái bị viêm vú hoặc một bệnh nào đó làm giảm sản lượng sữa.
Heo nái bị què, chân không vững.
Heo nái đẻ lứa đầu chưa có kinh nghiệm khi đứng lên ngồi xuống.
Chuồng nuôi thiết kế không hợp lý, quá chật chẳng hạn  heo mẹ khó trở mình, heo con không có nhiều không gian để di chuyển.

Từ phía heo con:
Heo con bị đè chết do quá yếu, nhỏ, chậm chạp nên không tránh kịp.

Thể trạng heo con không tốt (heo con ốm, bệnh, sốt cao, sinh ra đã yếu, ốm do lạnh…) khả năng vận động cũng như sức đề kháng không cao là nguyên nhân hàng đầu khiến heo con phản xạ chậm và hay bị mẹ đè chết.
Khi heo mẹ giảm sản lượng sữa vì một nguyên nhân nào đó làm cho heo con thiếu sữa, đói. Bởi vậy nó phải nằm thường xuyên bên heo mẹ (khu vực nguy hiểm) nên tỷ lệ bị mẹ đè chết tăng cao hơn.
Heo con có vấn đề về chân và khớp: què, đi lại khó khăn nên không tránh kịp.
Chuồng nuôi quá lạnh nên heo con phải nằm sát lại gần bên heo mẹ → heo con nằm trong khu vực nguy hiểm.

Làm sao để phát hiện kịp thời?
Khi heo con bị đè, nó sẽ la hét rất lớn nên chỉ cần để ý chúng ta hoàn toàn có thể phát hiện và kịp thời giải cứu. Vậy nếu là ban đêm và người trực chuồng heo nái đẻ ngủ quên thì sao? (trong thực tế heo con đa phần bị đè chết vào ban đêm – khi con người không thể giám sát hết được toàn bộ heo con cẩn thận như ban ngày).
Thiết kế chuồng nuôi không hợp lý có thể giết chết heo con

Tốt nhất, để chủ động hơn trong việc phát hiện sớm các nguy cơ, bà con chăn nuôi cần phải để ý quan sát kỹ hơn. Nếu thấy các biểu hiện như:
- Heo nái bị tổn thương chân, viêm vú, stress, mệt mỏi…
- Heo con què quặt, đi lại khó khăn, ốm yếu, chậm chạp, đói và thường xuyên nằm cạnh mẹ…
- Thiết kế chuồng nuôi có chỗ chưa hợp lý như nhiệt độ, thiết kế sàn chuồng, diện tích…
Thì nên có các biện pháp phòng tránh trước khi quá muộn.

 Khắc phục heo con bị mẹ đè như thế nào?

Giữ cho môi trường yên tĩnh, giữ cho heo nái không bị stress là những việc làm vô cùng quan trọng

01 Nên theo dõi chặt chẽ heo nái trong thời gian đẻ và ngay sau khi sinh để phát hiện sớm xem chân heo nái có vững không?, nó có bị stress gì không?... nhằm phát hiện sớm nguy cơ heo nái có thể sẽ đè chết heo con hay không.

02 Tăng cường các biện pháp giúp heo nái có 4 chân khỏe mạnh như bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, khoáng, Canxi

03 Giữ cho môi trường luôn yên tĩnh, không làm heo nái căng thẳng là việc vô cùng cần thiết.

04 Để ý quan sát một số heo nái có hành vi bất thường như không muốn heo con bú, đụng vào người (nhất là heo nái đẻ lứa đầu) để đề phòng.

05 Theo dõi hồ sơ ghi chép của từng heo nái xem trong những lứa đẻ trước heo nái đó có đè chết con bao giờ chưa? Nếu có thì xác suất là bao nhêu để có phương án dự phòng thích hợp.

06 Thiết kế ô chuồng heo nái đẻ sao cho kìm hãm heo nái và giúp bảo vệ heo con được tốt nhất. Những heo nái được nuôi trên lớp lót chuồng thích hợp thì ít đè chết heo con hơn Những heo nái được nuôi trên lớp lót chuồng thích hợp thì ít đè chết heo con hơn

07 Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học chăn nuôi từ Ireland, những heo nái được nuôi trên lớp lót chuồng thích hợp (mùn cưa, sàn nhựa hoặc rơm) thì ít đè chết heo con hơn những heo nái còn lại).

 Theo VIETDVM
Read More
Còn hơn 1 tháng nữa là đến Tết Nguyên đán, người chăn nuôi gà đồi ở xã Nghĩa Hưng (Nghĩa Đàn) đang dồn sức chăm sóc chuẩn bị phục vụ nhu cầu người tiêu dùng.

Gia đình anh Trần Văn Vinh ở xóm 11 là hộ đầu tiên của xã Nghĩa Hưng thực hiện thành công mô hình nuôi gà thả đồi theo hướng hàng hóa. Với cách nuôi gối vụ, mỗi năm 6 lứa, trung bình mỗi lứa từ 1.500 - 2.000 con gà, vào dịp Tết gia đình tăng tổng đàn lên 4.000 con.
Với kinh nghiệm nuôi gà nhiều năm, anh Vinh cho biết: Dịp Tết, người dân chủ yếu mua gà trống để cúng, phục vu nhu cầu tâm linh truyền thống. Chính vì vậy, gia đình anh cũng tập trung nuôi gà trống đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Để có đàn gà khỏe mạnh, mã đẹp, ngoài việc tiêm đầy đủ các loại vacxin, khi gà mới được 25 ngày tuổi gia đình cho gà uống nước tỏi, xông chuồng bằng bồ kết để kháng bệnh viêm ruột, cầu trùng và cảm cúm. Gà được bổ sung các loại thức ăn như: rau, lúa, cám để gà chắc thịt, thơm ngon.

Đàn gà trống thả đồi của gia đình anh Trần Văn Vinh - xóm 11, xã Nghĩa Hưng (Nghĩa Đàn). Ảnh: Minh Thái
Đàn gà trống thả đồi của gia đình anh Trần Văn Vinh - xóm 11, xã Nghĩa Hưng (Nghĩa Đàn). Ảnh: Minh Thái
Anh Trần Văn Vinh cho biết thêm: “Nuôi gà thả vườn tận dụng được nguồn thức ăn tươi là các loại côn trùng và cây cỏ tự nhiên, dịch bệnh ít xảy ra, chi phí đầu tư thấp hơn so với nuôi nhốt, thịt gà chắc, ngon, được người tiêu dùng ưa chuộng”.
Theo tính toán của người chăn nuôi, nếu giá dao động từ 65.000 - 70.000 đồng/kg, người chăn nuôi đã có lãi. Năm nay, phấn khởi hơn, nhiều mặt hàng nông nghiệp giảm mạnh, nhưng giá gà vẫn bình ổn với mức 80.000 - 85.000 đồng/kg. Tính ra sau hơn 3 tháng chăm sóc, mỗi con gà cho lãi 40.000 đồng. Gia đình anh Vinh nuôi mỗi năm khoảng 6 lứa, nếu thuận lợi, gà không bị dịch bệnh, thì mức lợi nhuận khoảng 350 - 400 triệu đồng/năm.
Cũng theo xu hướng này, hộ anh Trần Văn Sơn ở xóm 12, cũng tăng đàn gấp đôi vào dịp Tết, với tổng đàn hơn 1.000 con. Với 5 năm kinh nghiệm trong nghề chăn nuôi gà ta, anh Sơn hiểu rõ con gà qua từng biểu hiện nhỏ nên việc chăn nuôi khá thuận lợi. Anh chia sẻ: “Tôi thấy việc nuôi gà đồi ít tốn công, đầu ra cũng dễ, giá cả ổn định. Việc nuôi theo mô hình thả đồi, có chuồng trại sẽ giúp chúng tăng sức đề kháng, tăng chất lượng thịt gà khi xuất chuồng. Gà con khoảng 3 ngày tuổi mua về nếu được chăm sóc tốt hơn 3 tháng có thể xuất bán, khi đó gà có trọng lượng khoảng 1,7 - 2kg”.
“Mỗi năm gia đình xuất bán ra thị trường gần 3.500 - 4.000 con gà, tương đương hơn 12 tấn gà thịt. Với mức giá ổn định 80.000 - 85.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, gia đình thu về hơn 150 - 200 triệu đồng/năm” - anh Sơn phấn khởi cho biết thêm.

Nguồn: VOV
Read More

19/1/19

Vi khuẩn E.coli trong chuồng heo nái là một trong những tác nhân gây bệnh phổ biến và cũng là một trong những nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế nặng nề nhất do ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của heo con làm giảm tăng trọng và tăng tỷ lệ chết.
Tuy nhiên ở chuồng đẻ không chỉ có E.coli gây ra những tổn thất đó; các yếu tố khác như môi trường, quản lý hay các tác nhân khác cũng gây những tác động tiêu cực tới heo con hoặc gián tiếp thúc đẩy E.coli gây bệnh mạnh mẽ hơn nữa.


Một chú heo con mắc bệnh do E.coli gây ra
Một chú heo con mắc bệnh do E.coli gây ra

1. Cơ cấu heo trong trại không hợp lý:
Mất cân bằng cơ cấu độ tuổi của heo nái trong trại cũng thúc đẩy E.coli bùng phát. Điều đó có nghĩa ta cần chú ý tới cơ cấu độ tuổi của heo nái trong trại. Nếu quá nhiều một độ tuổi nào đó đều không phù hợp và có thể gây bùng phát dịch bệnh
VD: Tỷ lệ heo nái đẻ lứa 1 tăng lên >20% sẽ tăng nguy cơ E.coli bùng phát tại trại do heo nái đẻ lứa 1 có khả năng miễn dịch và truyền miễn dịch thấp hơn heo nái dạ

2. Cách chăm sóc trong giai đoạn heo nái mang thai
Những chăm sóc ở giai đoạn heo nái mang thai cũng có ảnh hưởng lớn tới sự duy trì mầm bệnh E.coli và bùng phát E.coli trong trại heo nái

- Ở đầu thai kỳ (giai đoạn 35-40 ngày):
Đây là thời điểm quan trọng có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của heo con.
Trong thời gian này nếu chúng ta cho ăn quá nhiều trong khoảng 3 ngày liên tục sẽ ảnh hưởng tới khả năng tiêu hóa của heo nái và làm tăng bài thải progesterone qua gan (điều này ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của heo con trong bào thai, nặng có thể gây chết thai).
Tuy nhiên, bạn cũng không nên quá lo vì nếu ngoài giai đoạn này thì mọi thứ vẫn diễn ra bình thường.
Ở giai đoạn này ít có ảnh hưởng của E.coli tới hiện tượng heo nái bị tiêu chảy

- Giai đoạn giữa thai kỳ:
Đây là giai đoạn quạn trọng để đưa thể trạng heo nái về chuẩn để chuẩn bị phục vụ cho thời kỳ nuôi con.
Từ giai đoạn này tới khi sinh heo bắt đầu có sự phát triển tuyến vú

- Giai đoạn cuối của thai kỳ:
Có nhiều tranh cãi về sự phát triển của heo ở giai đoạn này. Đa số đều cho rằng cần cho heo nái ăn nhiều để duy trì bào thai đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất.
Tuy nhiên nếu heo nái ăn quá nhiều cũng ảnh hường tới sức khỏe từ đó cũng ảnh hưởng lớn tới bào thai.

3. Yếu tố môi trường:
Với chuồng đẻ lúc nào cũng cần chú ý duy trì hai ngưỡng nhiệt độ.
Nhiệt độ chuồng nuôi: cần duy trì 22-24oC. Tuy nhiên, tùy vào nhiệt độ của môi trường mà điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi phù hợp với heo nái (đặc biệt với điều kiện khí hậu tại Việt Nam).
Nhiệt độ ô úm dành cho heo con sơ sinh: là 36-38oC (duy trì trong tuần đầu sau khi sinh). Vì vậy ô úm cần sử dụng thêm thiết bị sinh nhiệt để duy trì nhiệt độ cao và ổn định (có thể dùng bóng điện hồng ngoại, bóng chạy bằng gas hay lò sưởi bằng than..).
Những yếu tôi môi trường sẽ giúp Heo con phát triển ổn định và duy trì sức đề kháng với E.coli.

4. Vaccine:
Cần xây dựng 1 lịch vaccine phù hợp với cả heo nái và heo con, tất nhiên phải đưa E.coli vào danh sách các vaccine cần phải tiêm.

5. Số lượng và chất lượng sữa:
Không phải tất cả các núm vú của heo nái đều tiết sữa như nhau vì vậy cần xây dựng một kế hoạch cho heo ăn hợp lý đặc biệt là sữa non điều này không chỉ giúp heo con có một hệ thống miễn dịch ổn định mà còn cung cấp đủ năng lượng cho heo con sơ sinh.


Năng lượng duy trì của heo sơ sinh và sau 24 giờ của heo con
Năng lượng duy trì của heo sơ sinh và sau 24 giờ của heo con

6. Di chuyển Heo con giữa các chuồng:
Heo con cần được nuôi ổn định trong chuồng và hạn chế vận chuyển, điều này là vô cùng cần thiết. Nếu thực sự cần phải chuyển chuồng chúng ta nên lựa chọn chuyển heo mẹ và thay vào đó 1 chú heo mẹ khác, chứ không nên chuyển heo con.
Tuy nhiên vẫn còn phụ thuộc vào quy mô trại, số con/ổ, số con chết, loại ở mỗi ổ, nếu số heo con còn lại quá ít thì có thể dồn vào để 1 heo nái nuôi (tăng hiệu quả khai thác nái).

7. Kiểm soát khi đưa heo vào chuồng đẻ:
Với những heo nái có chất lượng xấu có thể mang mầm bệnh vào chuồng nái --> cần lưu ý kiểm soát trước khi chuyển heo từ chuồng bầu sang chuồng đẻ.

Bảng đánh giá heo bầu chuyển tới chuồng heo đẻ
Heo nái khỏe mạnhHeo nái có thể mang mầm bệnh
Sức ănĂn tất cả các thực phẩmĐể thừa thức ăn
Thể trạngPhù hợpGầy, giảm cân
Phản ứng với kích thíchNhanh nhẹnỦ rũ, không nhanh nhẹn
Trọng lượng phân phốiHeo đứng đều trên cả 4 chânKhông vững vàng
Màu daLông ngắn và da màu hồng (tùy từng giống)Lông dài, da màu vàng nhạt, xanh hoặc tím tái
ThaiDuy trì thai tốt và phát triển vúBị sảy thai, thai chết lưu và không có sự phát triển của tuyến vú
Nhiệt độ cơ thể
TB: 38 ° C
Thời gian mang thai: 40 ° C
TB> 39 ° C
Thời gian mang thai:> 40 ° C
Tần số hô hấpTần số bình thường: 13-20 / phútKhó thở, nhịp thở bất thường
PhânNhất quán bình thườngTiêu chảy hoặc táo bón
Nước tiểuMàu sắc và mật độ bình thườngNước tiểu rất trắng hoặc đục


8. Vệ sinh và khử trùng tại các ô chuồng đẻ:
 - Làm sạch cơ học để loại bỏ các chất hữu cơ trên mặt sàn và gầm sàn đẻ.
 - Sử dụng các chất tẩy rửa và dùng bơm áp lực cao để vệ sinh chuồng.
 - Khử trùng sàn đẻ , máng ăn, ống nước và các dụng cụ hỗ trợ đỡ đẻ.
 - Ô đẻ cần được làm khô hoàn toàn trước khi chuyển heo nái từ chuồng bầu sang
→ Đây là nhân tố quan trọng giúp loại bỏ mầm bệnh (E.Coli) ra khỏi trại.

9. Công nhân:
Tất cả công nhân trong trại cần được qua một khóa đào tạo về quy trình chăn nuôi để có được những kiến thức cơ bản giúp họ làm việc một cách khoa học và hiệu quả nhất.

Bảng các chỉ tiêu mà những công nhân cần chú ý
Điều kiện bất lợiẢnh hưởngĐiều kiện tối ưuẢnh hưởng
Môi trườngNhiệt độ chuồng nuôi> 22 ºC và <14 font="">- Giảm lượng ăn
- Giảm lượng sữa
- Sức khỏe suy giảm
Từ 18 - 22 °C
• Tăng thời gian cho heo con bú
• Tăng tiết sữa
Nhiệt độ của ô úmLạnh
- Hội chứng suy thận
- Môi trường chuông nuôi lạnh
Từ 36 - 38 °C
• Làm khô nhanh ô úm
• Heo con thường ngủ trong ô úm
• Giảm hội chứng suy thận
Dinh dưỡng cho heo náiNước cho heo náiTốc độ dòng chảy <2 font="" l="" ph="" t="">
- Sản xuất sữa giảm
- Tăng nguy cơ lây bệnh
> 2 l/phút
• Đủ nước sạch
• Tăng thời gian con bú
• Tăng tiết sữa
Thức ăn cho heo náiThức ăn nhiễm tạp chất
Thức ăn bị lên men
Sử dụng thức ăn mới và sạch
Giảm mật độ nuôi
Làm sạch chuồng nuôi
Khử trùng chuồng nuôi
Giảm mật độ nuôi
Làm sạch chuồng nuôi
Khử trùng chuồng nuôi
Giảm mật độ <3 br="" nbsp="" ng="" y="">Độ ẩm
Không làm sạch
Không khử trùng
- Tăng áp lực về các bệnh nhiễm trùng
- Có sự xuất hiện của các bệnh tiêu chảy
Môi trường khô
Giảm mật độ > 3 ngày
Dùng hóa chất làm sạch
Sử dụng chất khử trùng khác
• Áp lực dịch ↓
  
10. Chất lượng nước:
Nước là một chất dinh dưỡng rất quan trọng và đây cũng là nguồn lây nhiễm chủ yếu của E.coli.
Nước cần được làm sạch hóa chất, tạp chất và đặc biệt là vi sinh vật để chất lượng luôn đảm bảo.
Ngoài ra cần đảm bảo heo không bao giờ bị thiếu nước trong tất cả các chuồng nuôi nói chung và chuồng đẻ nói riêng.

Read More

Vì ngày ǝm đến là ngày rơi mùa hè. Bầu trời lấp lánh những cánh hoa như sao tỏa bay.
Dường như là vẫn thế ǝm không trở lại, mãi mãi là như thế ɐnh không trẻ lại. Dòng thời gian trôi như ánh sao băng...