18/6/20

Xin trích dẫn một tài liệu từ THS-BS. NGUYỄN VĂN MÃO với đề tài NHẬN XÉT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ GIẢI PHẪU BỆNH U NHẦY TRONG TIM TẠI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010. 
Dưới dây là một số thông tin, xin vui lòng xem bản đầy đủ ở tệp đính kèm bên dưới

Về đặc điểm lâm sàng

Các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi nói chung là đến muộn với độ tuổi trung bình khá cao (44,17 tuổi) nên biểu hiện khá đầy đủ các triệu chứng lâm sàng của u nhầy nhĩ trái. Đó là các triệu chứng toàn thân, triệu chứng tắc mạch và triệu chứng tại tim. Trong số 65 bệnh nhân, chủ yếu có triệu chứng khó thở (68,4%), triệu chứng sốt kéo dài,dai dẳng có 12,3 % bệnh nhân, triệu chứng đau mỏi khớp chiếm 14%, cơ chế sinh bệnh học này có thể giải thích do phản ứng kháng nguyên kháng thể của yếu tố u gây nên.
Triệu chứng hồi hộp trống ngực là chủ yếu với 52,6% bệnh nhân, tiếng rung tâm trương chiếm 78,9 % bệnh nhân Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả trên thế giới và trong nước.

Các triệu chứng lâm sàng thường gặp ở nghiên cứu của Fisher và CS là: khó thở khi gắng sức (> 70%), ngất (20%), ho ra máu khoảng (15%), khó thở phải ngồi (25%), đột tử (15%), bệnh nhân thường có sốt nhẹ, có nhức ở khớp lớn, cảm giác mệt mỏi và giảm cân không rõ nguyên nhân. Khi nghe tim 70% có tiếng rung tâm trương ở mỏm, âm thổi tâm thu 50%. Rung nhĩ gặp ở 15% các trường hợp và có tăng áp lực mạch phổi (70%). Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Mão và cộng sự năm 2008 khi nghiên cứu 22 bệnh nhân u nhầy nhĩ trái: có 68,4 % bệnh nhân khó thở, 57,9 % hồi hộp đánh trống ngực và 73,4 % rung tâm trương.
Triệu chứng tắc mạch xuất hiện khi các mảnh u di chuyển đến nơi khác, có thể tắc mạch não hoặc chi. Khi u nhầy di chuyển qua lỗ van hai lá gây triệu chứng giống bệnh hẹp van hai lá. Lâm sàng là biểu hiện từng đợt gây ngất hoặc nặng hơn là tai biến mạch não. Trong nghiên cứu của chúng tôi có 10,8% bệnh nhân biểu hiện tắc mạch não, trong tiền sử có những lần 31 tai biến mạch máu não. Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của tác giả Fisher và CS, của Phan Kim Phương () hay của Nguyễn Văn Mão (). Một số tác giả còn gặp bệnh nhân tắc mạch vành hoặc mạch tạng. Chúng tôi chưa gặp trường hợp nào. Có thể trong tương lai với nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn chúng tôi sẽ gặp được những bệnh nhân này.

Về đặc điểm giải phẫu bệnh

Đặc điểm đại thể

- Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số là các bệnh nhân u nhầy lành tính với các hình dạng đại thể như quả lê, nắm tay.
- Có 7 bệnh nhân có vị trí thắt giữa u giống hình quả tạ. Đây là đặc điểm giải phẫu khá quan trọng cho thấy khối u bị biến đổi hình dạng khi di chuyển qua van hai lá. Điều này có thể gây ra choáng ngất hoặc đột tử cho bệnh nhân. Kết quả này cũng phù hợp với một số tác giả khác như: Gabriel S. Aldea MD(6). Murphy, MC(7).
- Kích thước khối u lớn nhất chúng tôi gặp là 9 x6cm, nhỏ nhất: 2 x1,5cm. Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả Phan Kim Phương, Đặng Thị Bạch Yến. Với đặc điểm bệnh nhân lớn tuổi đến muộn nên việc có bệnh nhân khối u lớn như vậy cũng là điều dễ hiểu. Và đồng nghĩa với nguy cơ tai biến cho bệnh nhân tăng tỷ lệ thuận với kích thước u. Thực tế trong nghiên cứu của chúng tôi thì bệnh nhân có khối u lớn nhất là bệnh nhân 58 tuổi, đến viện với tình trạng suy tim, NYHA III và trong tiền sử đã có một lần tai biến mạch máu não, di chứng liệt nửa người phải.
- Vị trí khối u trong nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu ở nhĩ trái, chiếm 87,7 %. Kết quả này phù hợp với hầu hết các tác giả trên thế giới và Việt Nam. Các trường hợp nằm ở vị trí khác như nhĩ phải và tâm thất thì hiếm và thường có xu hướng ác tính.

Đặc điểm vi thể

- Phần lớn các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là u nhầy lành tính, với 57 bệnh nhân, chiếm 87,7% . Kết quả này cũng phù hợp với các tác giả khác.
- Chúng tôi gặp 7 bệnh nhân Sarcoma với 3 bệnh nhân ở nhĩ trái, 1 trường hợp ở nhĩ phải , 1 trường hợp ở thất phải, 2 trường hợp ở thất phải. Tiên lượng sau mổ kém và có 5/7 bệnh nhân đã tử vong sau 4 tháng, 8 tháng và 1 năm. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới thì tỷ lệ u ác tính cũng rất ít và phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi.
Có một trường hợp rất hiếm gặp là 1 trường u xơ cơ trong nghiên cứu của chúng tôi. Đây là một khối u lành tính tuy nhiên bản chất mô bệnh học là một khối u xơ cơ trong tim thì y văn thế giới rất hiếm tài liệu ghi nhận và ở Việt Nam thì chưa từng có báo cáo nào tương tự.

Kết luận

U nhầy chủ yếu là ở nhĩ trái, thường có các triệu chứng trên lâm sàng như khó thở, ngất, hồi hộp đánh trống ngực, khi nghe tim có tiếng rung tâm trương mà thay đổi theo tư thế thì phải kiểm tra bằng siêu âm. Siêu âm đủ để chẩn đoán và chỉ định mổ cũng như theo dõi kết quả sau mổ mà không cần chụp buồng tim hay các thăm dò khác như chụp cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp ( trừ những trường hợp nghi có ung thư hoá).
Giải phẫu bệnh khối u thường là lành tính, tuy nhiên chúng tôi cũng gặp 7 trường hợp ác tính và kết quả sau mổ thường không tốt.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị duy nhất và phải mổ càng sớm càng tốt ngay sau khi có chẩn đoán. Tuỳ thuộc vào vị trí bám của cuống u, kích thước của khối u mà chọn đường mở tim thích hợp.
Kết quả lâu dài sau mổ tốt. Tỷ lệ tái phát thấp, bệnh nhân tái hoà nhập bình thường với xã hội.
Chúng tôi mong rằng trong tương lai tiếp tục có những nghiên cứu sâu hơn trên cỡ mẫu lớn hơn để có thể thu được những kết quả nghiên cứu giá trị góp phần điều trị hiệu quả hơn.

File đính kèm


Read More

11/6/20

Chế độ ăn uống sau khi phẫu thuật tim hở có thể giúp ngăn ngừa cơn đau tim và sự cần thiết phải phẫu thuật tim trong tương lai.
Chế độ ăn uống sau khi phẫu thuật tim hở có thể giúp ngăn ngừa cơn đau tim và sự cần thiết phải phẫu thuật tim trong tương lai. Một điều quan trọng là cần làm giảm lượng mỡ cơ thể người bệnh bởi vì thuốc có thể làm tăng lượng mỡ trong máu bệnh nhân.
Tăng mỡ máu có thể gây tắc mạch, làm gia tăng cơ hội gặp nhiều rắc rối về vấn đề tim mạch trong tương lai.

Nên ăn các thực phẩm thuộc dòng thực vật và protein nạc

Người bệnh sau phẫu thuật tim nên ăn các thực phẩm có chứa stanols thực vật; hoa quả và rau, đậu, hạt và ngũ cốc nguyên hạt có thể được tiêu thụ trong khẩu phần để cung cấp lượng chất xơ cao có thể giúp giảm cholesterol xấu.

Sau khi phẫu thuật, 1-2 ngày đầu tiên: năng lượng cần thiết chỉ thu được thông qua dung dịch muối. Sau đó dần dần bệnh nhân sẽ được phép uống nước hay đồ uống khác hoặc sử dụng đồ uống không năng lượng như trà xanh. Khi bệnh nhân được phép ăn, nên chia thành các bữa ăn nhỏ cách nhau 2 hoặc 3 giờ. Nó sẽ tốt hơn nếu lượng carbonhydrat ban đầu chỉ giới hạn trong trái cây và rau quả. Trong vòng 1 tuần sau khi phẫu thuật, với mỗi bữa ăn bệnh nhân có thể dùng trái cây và rau, các loại protein nạc.

Cá rất giàu acid béo omega-3 có thể giúp giảm cholesterol rất tốt cho người bệnh sau phẫu thuật tim, nhưng nên ăn cá hấp kèm rau củ, không ăn cá chiên.
Nên bắt đầu một chế độ ăn có ít chất béo (nếu trước đây chế độ ăn của bệnh nhân không thực hiện ít chất béo). Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng, đối với người Việt Nam, năng lượng do chất béo cung cấp trong khẩu phần nên dưới 25%. Sử dụng chất béo không bão hòa. Chất béo bão hòa chỉ từ 8-10% năng lượng hàng ngày.

Có thể dùng thịt gà không có da. Nên thay thế các chất béo, nước sốt và bơ bằng salad có trộn ít dầu và bơ thực vật không ướp muối. Nên ăn nhiều rau quả tươi. Thịt dùng loại thịt nạc, thịt bò, tránh các loại thịt đỏ khác. Có thể dùng thêm đậu phụ, đậu phộng và hạt không ướp muối để cung cấp thêm protein. Nên ăn cá tươi hoặc cá đông lạnh. Cá rất giàu acid béo omega-3 có thể giúp giảm cholesterol. Không nên ăn cá rán.

Những thực phẩm cần hạn chế

Nên loại bỏ các thức ăn nhanh, thức ăn chiên, lòng đỏ trứng, bơ và sữa nguyên kem. Có thể sử dụng chất béo thấp từ sữa chua và phomat trong chế độ ăn trước khi phẫu thuật tim để có được lượng canxi cần thiết.
Giảm các loại thực phẩm có hàm lượng cholesterol cao. Lượng cholesterol giảm xuống dưới 300mg một ngày. Không dùng trứng, tôm cua, thức ăn nhanh, thịt bò và một số loại phomat.

Giảm lượng muối (sodium) trong khẩu phần. Không dùng quá 2g muối mỗi ngày. Tránh dùng nhiều các thực phẩm: thịt xông khói, cá hồi hun khói, bơ đậu phộng, dưa chua, nước sốt spaghetti, khoai tây chiên đóng gói và súp đóng hộp. Cắt giảm lượng muối sẽ rất hữu ích cho giai đoạn chuẩn bị phẫu thuật.
Tuyệt đối tránh rượu và thuốc lá.

Lưu ý

Các thức ăn dù tươi hay đóng hộp hoặc đông lạnh cũng không nên cho thêm đường (ví dụ trái cây hoặc nước trái cây).
Hàng ngày người bệnh cần được theo dõi cân nặng. Nên cân bệnh nhân vào buổi sáng và sau khi đi vệ sinh. Hãy cho bác sĩ biết nếu người bệnh tăng hơn 0,9kg trong một ngày.

Phẫu thuật tim là một thủ thuật khó. Nhưng nhớ rằng chỉ có trung tâm phẫu thuật với chế độ ăn uống nghiêm ngặt mới có thể giúp người bệnh đạt kết quả tốt hơn trước và sau khi phẫu thuật. Với một chế độ ăn uống cân bằng, người bệnh có thể có được sức khỏe cần thiết để đối mặt với phẫu thuật và hồi phục nhanh. Các bác sĩ cần khuyến cáo người bệnh thực hiện nghiêm túc chế độ ăn uống sẽ mang lại hiệu quả cao trong suốt thời gian sau khi ra viện.

PGS. TS. Trần Minh Đạo - theo suckhoedoisong
Read More
Sau khi phẫu thuật, chế độ ăn uống cần được quan tâm đặc biệt. Ngoài những thực phẩm cần tăng cường ăn, người bệnh cũng nên tránh các thực phẩm có thể tác động xấu lên cơ thể. Người sau phẫu thuật kiêng ăn gì? Dưới đây là danh sách giúp bạn tham khảo. Xịn lưu ý: tuyệt đối tuân theo chỉ dẫn bác sĩ với các trường hợp đặc biệt.

Thực phẩm gây dị ứng, đồ nếp

Người sau phẫu thuật nên kiêng đồ nếp, các loại bánh làm từ nếp như bánh chưng, bánh tét.....

“Người sau mổ nên kiêng ăn gì? Hay “Người sau phẫu thuật nên kiêng ăn gì? chắc hẳn là câu hỏi mà nhiều người băn khoăn khi có người thân sau phẫu thuật.
Thực phẩm đầu tiên trong danh sách những thực phẩm nên kiêng đó là những thực phẩm gây dị ứng và đồ nếp.

Đồ nếp như bánh chưng, cơm nếp, xôi, bánh dày, chè,… có tính hàn nên thường khiến cho quá trình lành sẹo của cơ thể chậm hơn.
Các thực phẩm như hải sản, da gà, đậu phộng,… cũng cần được cân nhắc trước khi sử dụng để tránh gây dị ứng không mong muốn đến cơ thể.

Thực phẩm có chất kích thích, tính axit cao

Các thực phẩm có chất kích thích như đồ uống có cồn, rượu bia,… có tính axit như chanh, bưởi, cam,… có thể gây tổn thương và áp lực cho hệ tiêu hóa. Đặc biệt là những người phẫu thuật liên quan đến hệ tiêu hóa hoặc khoang miệng thì các thực phẩm trên có thể gây sưng, mưng mủ. Tốt nhất là bạn nên hạn chế các thực phẩm này trong thời gian cơ thể đang hồi phục sau phẫu thuật.

Đồ cay mặn, có nhiều gia vị, dầu mỡ

Món ăn cay nóng, nhiều gia vị luôn không được chào đón cho người sau phẫu thuật
Thực phẩm có gia vị và cay nóng (Ớt, hạt tiêu, mù tạt, sa tế,…) có thể kích thích vị giác và khiến bạn ăn ngon miệng hơn. Tuy nhiên, nếu vừa phẫu thuật xong, các thực phẩm này sẽ không được cơ thể “chào đón”. Với những bệnh nhân thực hiện phẫu thuật dạ dày thì đồ cay nóng, nhiều gia vị càng cần phải tránh xa.

Các thực phẩm dạng này không chỉ kích thích dạ dày tiết nhiều dịch vị mà còn gây ra tình trạng đầy hơi, chướng bụng và tổn thương cơ thể. Vì vậy, bạn nên chờ khi vết mổ lành lại mới sử dụng các thực phẩm này.

Mỡ động vật

Mỡ động vật như mỡ lợn, da gà, nội tạng động vật,…. chứa hàm lượng chất béo cao gây áp lực cho hệ tim mạch và khiến chúng hoạt động quá tải. Với những bệnh nhân phẫu thuật tuyến tụy thì ăn mỡ động vật còn tăng gánh nặng cho hệ tiêu hóa. Mỡ động vật mang lại nguồn năng lượng lớn và có thể khiến vết mổ lâu lành hơn.
Do đó, bạn nên thay thế bằng cách chất béo lành mạnh có nguồn gốc từ thực vật.

Thức ăn có quá nhiều chất xơ

Thực phẩm giàu chất xơ có tác dụng hỗ trợ hệ tiêu hóa tốt. Tuy nhiên, với những người vừa phẫu thuật, đồ ăn nhiều chất xơ cần được hạn chế sử dụng.
Thực phẩm giàu chất xơ (dừa, ngô, khoai lang, bánh mì, đậu phộng, đậu trắng, rau cần,… ) có thể khiến bạn bị đầy bụng khó tiêu và gây táo bón.

Thực phẩm không rõ nguồn gốc, ôi thiu
Loại bỏ hoàn toàn thực phẩm đã có dấu hiệu hỏng

Các thực phẩm ôi thiu hoặc không rõ nguồn gốc không được sử dụng dù tình trạng sức khỏe của bạn đang như thế nào. Những thực phẩm này có thể chứa nhiều chất độc nguy hiểm và vi khuẩn tấn công cơ thể. Chúng có thể gây ra táo bón, ngộ độc hoặc các phản ứng nguy hiểm khác.

Khi thực phẩm có dấu hiệu ôi thiu, bạn nên bỏ hoàn toàn chứ không nên chỉ loại bỏ phần đã hỏng. Nên lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng để đảm bảo an toàn.

Thực phẩm sống, không được nấu chín

Người bệnh ở giai đoạn hồi phục có sức đề kháng yếu. Trong khi đó, các thực phẩm sống, không được nấu chín (như rau sống, sushi, gỏi cá, nộm,… ) có thể tiềm ẩn nhiều vi khuẩn gây hại. Tốt nhất là người bệnh chỉ ăn đồ ăn đã được nấu chín hoàn toàn và hạn chế ăn cả đồ tái.

Thực phẩm lên men, muối chua

Không dùng thực phâm lên men, muối chua cho người sau phẫu thuật

Đồ muối chua, lên men kích thích vị giác tốt. Tuy nhiên, với những người vừa thực hiện phẫu thuật, đây là nhóm thực phẩm cần hạn chế ăn.

Thực phẩm lên men chứa trong nó những vi khuẩn sống. Khi sức khỏe đang giảm sút vì phẫu thuật, các vi khuẩn này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đường tiêu hóa và làm cho bạn bị nhiễm trùng. Dưa muối, cà muối, tôm chua, thịt chua, nem, kim chi,… là những thực phẩm lên men mà bạn cần tránh xa.

Thực phẩm cứng, khó tiêu

Sau phẫu thuật, các cơ quan tiêu hóa cũng chưa đạt tới trạng thái hoạt động tốt nhất. Ăn các thực phẩm cứng và khó tiêu làm cho dạ dày không thể tiêu hóa hết gây đầy bụng, chướng bụng.

Người sau phẫu thuật nên hạn chế ăn trái cây khô, thịt bò khô, xúc xích, lạp xưởng, phô mai, sữa và các sản phẩm từ sữa, thịt đỏ, bánh ngọt, kẹo, bánh và các thực phẩm có đường khác.

Thực phẩm gây dị ứng với thuốc

Sau phẫu thuật, người bệnh có thể được bác sĩ chỉ định sử dụng một số loại thuốc nhất định. Nhiều loại thực phẩm có thể gây ra phản ứng với thuốc điều trị. Vì vậy, bạn cần nắm rõ thành phần các loại thuốc và tham khảo ý kiến bác sĩ để tránh ăn các thực phẩm gây dị ứng.

Một số loại thực phẩm trong những trường hợp cụ thể có thể gây dị ứng với thuốc như: cà phê, trà xanh, tỏi, tôm, chuối, thịt xông khói,…

Thực phẩm dễ để lại sẹo lồi, làm đổi màu da chỗ vết thương

Ăn nhiều lòng trắng trứng có thể khiến vùng da chỗ vết thương đổi màu
Các thực phẩm giàu protein có thể gây ra sẹo lồi vì kích thích quá mức quá trình làm lành vết thương của cơ thể. Để tránh tình trạng bị sẹo lồi và màu da chỗ vết thương bị đổi, bạn nên kiêng ăn rau muống, thịt đỏ, lòng trắng trứng,…
Ăn nhiều lòng trắng trứng có thể khiến vùng da chỗ vết thương đổi màu

Lưu ý

Hãy ăn đa dạng các loại đồ ăn khác nhau để đảm bảo cơ thể đủ chất dinh dưỡng
Trong quá trình kiêng khem sau phẫu thuật, để cơ thể nhanh chóng phục hồi, bạn cần lưu ý:
Thời gian ăn kiêng: Bạn không cần kiêng các thực phẩm trên trong thời gian quá dài. Khi cảm thấy cơ thể đã khỏe mạnh hơn, cơ thể phục hồi tích cực thì có thể ăn trở lại với lượng nhỏ.
Ăn đa dạng các thực phẩm: Để bổ sung nhiều chất dinh dưỡng cho cơ thể, bạn nên thêm vào chế độ ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau. 

Nên ưu tiên các thực phẩm lành mạnh có nguồn gốc rõ ràng.
Có chế độ ăn phù hợp: Mỗi giai đoạn hồi phục của cơ thể cần có chế độ ăn riêng. Để nắm được chế độ ăn phù hợp nhất cho từng giai đoạn, bạn có thể tham khảo: Người sau phẫu thuật nên ăn gì?
Người sau phẫu thuật nên kiêng gì, qua những thông tin trên đây, bạn nên xây dựng chế độ ăn phù hợp nhất. Quá trình kiêng khem không quá kéo dài nhưng có thể giúp bạn hồi phục cơ thể nhanh hơn.

Nguồn: viennhunghuoutw3
Read More

U nhầy ở tim là gì?

U nhầy là loại u nguyên phát ở tim thường gặp nhất ở người lớn, chiếm 25% u tân sinh ở tim và chiếm 50% khối u lành tính ở tim. U có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ bệnh ở nam và nữ ngang nhau.
Khoảng 75% u nhầy ở tim là đơn độc, vị trí thường gặp nhất là ở trong nhĩ trái, dính vào vách liên nhĩ gần lỗ bầu dục. U nhầy tim mọc ra từ bề mặt nội mạc tim ở bất kỳ vị trí nào nên có thể gặp ở những buồng tim khác hay trên van tim.

Hình ảnh u nhầy trong nhĩ trái


Bệnh u nhầy có di truyền không?

Chỉ có khoảng 10% u nhầy tim được xác định có liên quan đến yếu tố gia đình. U nhầy tim liên quan đến gia đình di truyền theo gen trội trên nhiễm sắc thể thường hoặc là một phần của hội chứng liên quan đến bất thường nhiều cơ quan gồm rối loạn sắc tố ở da, bệnh vỏ thượng thận nguyên phát có hay không có hội chứng Cushing, u tuyến yên, và u tinh hoàn.
U nhầy có tính gia đình có khuynh hướng xảy ra ở người trẻ tuổi, u ở nhiều vị trí, thường ở mỏm tim và dễ tái phát sau mổ.

Những vị trí thường gặp của u nhầy?

Phần lớn u nhầy nằm ở nhĩ trái (80%). Tuy nhiên u nhầy vẫn có thể gặp ở những buồng tim khác với tỉ lệ thấp hơn.
Vị trí %
Nhĩ trái 80
Nhĩ phải 15
Thất phải 5
Thất trái 5

Triệu chứng thường gặp của bệnh là gì?

Biểu hiện lâm sàng của bệnh gồm tam chứng kinh điển thứ phát do u nhầy gây ra gồm suy tim do tắc nghẽn van tim, đột quỵ do thuyên tắc và những triệu chứng giống bệnh thấp tim, được nghĩ do u tiết ra các cytokines gây viêm như interleukin-6. Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là giống bệnh van 2 lá, thường là hẹp 2 lá do u sa vào van 2 lá trong thời kỳ tâm trương hoặc hở van nếu van bị tổn thương do khối u gây ra. Những u nhầy hiếm gặp ở thất có thể gây tắc nghẽn đường thoát của thất, lầm tưởng với hẹp dưới van động mạch chủ hoặc hẹp dưới van động mạch phổi. Nghe tim có thể có âm thổi cường độ thấp, gọi là “tiếng rơi của khối u” nghe được đầu hoặc giữa tâm trương. U nhầy ở tim có thể gây ngất, cơn thoáng thiếu máu não hoặc đột quỵ do thuyên tắc. Có thể gặp bệnh nhân với triệu chứng của thuyên tắc mạch ngoại biên hoặc mạch phổi hoặc các triệu chứng ngoài tim như sốt, sụt cân, mệt mỏi, yếu sức, đau khớp, nổi ban, thiếu máu, đa hồng cầu, tăng bạch cầu, tăng độ lắng máu, tăng hoặc giảm tiểu cầu. U nhầy không có nguy cơ chuyển dạng ác tính.
Các phương pháp cận lâm sàng chẩn đoán bệnh?
Để chẩn đoán xác định có khối u trong tim cần làm các cận lâm sàng hình ảnh học:
Siêu âm tim
MSCT tim
MRI tim
Tuy nhiên để chẩn đoán bản chất của khối u cần phải làm thêm giải phẫu bệnh khi mổ cắt khối u.

Điều trị u nhầy?

Điều trị là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Tỷ lệ tử vong sớm sau mổ là 0.5 – 2.2%. Biến chứng rung nhĩ sau mổ gặp 23-33%, biến chứng thần kinh khoảng 3%. Đối với khối u nhầy đơn độc thường có tiên lượng tốt, tỷ lệ u tái phát 1-5%; tỷ lệ tái phát cao hơn ở u nhầy có tính gia đình, 20-25%. Khối u nằm ở những vị trí ít gặp dễ bị tái phát hơn.
Sau mổ bệnh nhân cần được tái khám định kỳ và siêu âm tim hàng năm để phát hiện u tái phát.

Tài liệu tham khảo:

Griffin BP, et al. Cardiac Tumor. The Cleveland Clinic Cardiology Board Review. Lippincott Williams & Wilkins, 2007.

Read More

15/7/17

Ăn chay đủ chất, khoa học đã trở thành một phong trào sống khỏe, an vui và đang được khuyến khích mạnh mẽ tại khắp nơi trên thế giới.
Bạn có biết nhà khoa học vĩ đại Albert Einsten, ông hoàng nhạc pop huyền thoại Michael Jachson, vị cựu tổng thống danh tiếng của Hoa Kỳ, Bill Clinton, cựu CEO của hãng hoạt hình trứ danh Walt Disney, Michael Eisner và nhiều bậc hiền triết kiệt xuất khác đều là những người trường chay. Tại sao vậy?

Albert Einstein: “Không gì có lợi cho sức khỏe và tăng tuổi thọ con người trên trái đất này bằng việc trường chay”
Read More

Vì ngày ǝm đến là ngày rơi mùa hè. Bầu trời lấp lánh những cánh hoa như sao tỏa bay.
Dường như là vẫn thế ǝm không trở lại, mãi mãi là như thế ɐnh không trẻ lại. Dòng thời gian trôi như ánh sao băng...